
It’s broken clouds and 4°C where I am...
H
ạ tàn nắng cũ
Đi qua mùa hạ

Chiều Quảng Trị vẫn nhiều gió như thế, thứ gió Lào hanh khô thổi từ đồng cát vào, vương mùi khói rơm và hương hoa dại ven sông. Thị xã của một vùng đất đã từng đi qua chiến tranh ác liệt, giờ đây trở về một vẻ xanh trong của hòa bình nhưng sao vẫn có chút gì buồn. Vùng đất ấy nửa thế kỷ sau bom đạn, người mới, nhà mới đã dần xoá đi dấu tích của năm tháng chiến chinh, chỉ còn thành cổ vẫn nằm yên đời đời, rêu phủ trên tường đá, thầm lặng cất giữ những ký ức của một thời đã qua. Chuông chùa vọng về những tiếng trầm u tịch như nhắc tâm hồn ta yên lại, để giữ mãi sự thanh bình và tĩnh lặng cho anh linh những người con đã nằm xuống đất này. Xa kia, cánh đồng phía ngoài thành thấp thoáng trong sắc vàng cuối vụ, khói lam chiều quyện trong gió đưa hương thơm ngát của gạo mới trắng bông.
Bên kia dòng Thạch Hãn ghi dấu một thời lịch sử, ngôi trường cấp ba nhỏ nằm nép mình bên con đường đất dẫn ra bờ sông. Mấy dãy phòng học mái ngói đỏ ngả sẫm màu nắng, hàng phượng vĩ trước sân bắt đầu rụng những cánh hoa đỏ thắm đầu tiên. Tiếng ve ngân vang từ vòm lá dày như tan vào trong khoảng trời đầu hạ cao xanh, kéo dài mãi đến tận những miền xa thẳm. Mùi phấn trắng và giấy vở quyện trong hơi nóng hắt lên từ sân gạch, những gương mặt học trò nghiêng nghiêng lơ đễnh nghe giáo viên dặn dò những lời sau cuối trước khi năm học kết thúc.
Rồi cũng đã đến lúc, tiếng trống tan trường vang lên. Lũ học trò như đàn chim non được xổ lồng, tíu tít ùa ra cổng, áo trắng lấp loáng trong ánh chiều. Bên kia cánh cửa lớp học, thầy giáo đứng lớp tuổi đã trung niên, dáng gầy, vẫn đứng lặng trên bục giảng, tay giữ cuốn sổ điểm sờn gáy. Thầy dõi nhìn theo đến khi đứa học trò cuối cùng đi khuất, tiếng cười tan vào gió nghe vừa thân thuộc vừa xa xôi, như vọng lại từ một mùa hè cũ.
Lại một năm học nữa trôi qua, Quang tự nhủ và nhẩm đếm. Vậy là anh đã làm cái nghề gõ đầu trẻ này được ngót nghét hai mươi năm. Hai mươi năm, chao ôi, nghe dài thật, vậy mà cứ ngỡ như mới chỉ hôm qua anh còn là thầy giáo vừa tốt nghiệp được phân công về trường. Đi qua cuộc đời anh là hàng ngàn gương mặt học trò mà ưu tú có, nghịch phá có, nhưng rồi tất cả cũng lần lượt lớn lên, rời khỏi ngôi trường nhỏ bên sông, mang theo những ước mơ đi về muôn ngả. Những lứa học sinh ấy hầu hết đã rời xa Quảng Trị, đi đến những miền đất đô hội hơn, muốn kiếm tìm sự tấp nập và hào nhoáng mà nơi đây không có. Chỉ còn dòng Thạch Hãn vẫn hiền hoà bình lặng ngóng chờ những người con phương xa trở về với quê hương.
Và anh cũng vậy.
Quang liếc nhìn gương mặt mình phản chiếu qua tấm kính cửa sổ, một hình ảnh gương mặt vừa thân quen, vừa xa lạ. Vầng trán đã có thêm vài nếp nhăn, tóc lấm tấm bạc, đôi mắt vẫn hiền nhưng sâu hơn trước. Anh khẽ cười và nghĩ: “Mình cũng đã già thật rồi sao?” Hôm trước khi ghé qua chợ mua chút rau cá đạm bạc, anh gặp mấy đứa học trò nhỏ bên trường tiểu học và chúng nó đã chào anh là bác. Tiếng gọi ấy khiến anh khựng lại, ngỡ ngàng một thoáng rồi bật cười. Thời gian thật lạ, cứ vô tình và hờ hững trôi qua, chỉ để một buổi chiều nào đó, ta chợt nhận ra mình đã ở bên kia con dốc cuộc đời.
Trong một buổi chiều nhàn tản như thế này, một buổi chiều tháng Năm sau tiết học cuối cùng, anh muốn chậm lại đôi chút để nhìn lại những năm tháng đã qua. Quang đứng tựa bên cửa sổ, mắt dõi theo một cánh hồ điệp mỏng manh chờn vờn trong gió, rồi dừng lại ở khoảng sân trống trước lớp. Vệt nắng nghiêng nghiêng rơi vãi khắp bậc thềm, màu nắng thuỷ tinh dát vào những phiến gạch bông nâu vàng sứt mẻ làm anh chợt nhớ đến một buổi chiều hạ năm nào, khi chính bước chân anh cũng từng đi qua nơi này, mang trái tim nặng trĩu những nỗi niềm không thể nói ra.
Người ta bảo, càng già con người càng hay nhớ. Có lẽ thật đúng. Quang không phải kẻ đa sầu đa cảm, nhưng đôi khi, chỉ một làn gió mang theo mùi nước sông Thạch Hãn ngai ngái và thoang thoảng hương lúa đồng chiêm vào vụ, hay một thanh âm vụn vặt cũng đủ làm lòng anh se sắt. Chiều nay, ve kêu dồn dập đâu đó ngoài vòm phượng và tiếng một đứa học trò nào vẫn còn lang thang trong sân trường gọi ới lên một tiếng: “Cường ơi!”
Cường, cái tên ấy khiến anh khựng lại.
Đã bao năm rồi, cái tên này vẫn còn nguyên trong ký ức, như vết mực loang trên tấm áo trắng học trò không bao giờ phai nhạt.
“Cường ơi.” Anh cũng khẽ gọi, tuồng như lời lặp lại vô thức của một mảnh ký ức đã chôn sâu trong tâm khảm. Hình như anh thoáng thấy hình ảnh hai cậu con trai ngồi cùng bàn ở cuối góc lớp, Cường đang nghiêng đầu chú tâm vào bài giảng văn, Quang thì lén nhét một mẩu giấy nhỏ viết nghịch ngợm gì đó vào vở em, rồi cả hai cùng nín tiếng cười khúc khích để cô giáo không phát hiện. Những ngày vô tư và trong sáng ấy sao đến bây giờ anh vẫn còn nhớ, như một mảnh nắng ấm còn sót lại trong tim dù đã trải qua bao mùa giông bão và những chặng đường đời.
§
Cường vốn là bạn học của anh suốt thời niên thiếu, là người anh xem như một phần thân thiết nhất của tuổi trẻ. Hai đứa lớn lên cùng xóm, cái xóm nghèo nhỏ trước đây chỉ thưa thớt vài hộ dân nằm giữa những cánh rừng Quảng Trị hoang hoải bạt ngàn màu xanh thời kỳ đầu giải phóng. Nơi ấy, mùa hạ gió Lào khô nóng thổi rát mặt và sương rơi lạnh buốt đêm cuối năm, có những đứa trẻ từ nhiều miền ngược xuôi khác nhau đã lớn lên trong tháng ngày nhọc nhằn của đất nước, chân thành và giản dị.
Hai người đều không sinh ra ở đây: Quang gốc Huế, Cường lại là người Hà Nội.
Sau ngày thống nhất, Quảng Trị hãy còn ngổn ngang trong tro tàn chiến tranh. Những ngôi nhà chi chít dấu vết súng đạn, những quả bom quân Mỹ ném xuống chưa nổ nằm vùi dưới đất đai và sông ngòi Quảng Trị như nhắc nhở hiểm nguy vẫn chực chờ. Mẹ Cường, từng là một thứ trưởng Bộ Ngoại giao và là thành viên trên bàn đàm phán hoà bình tại Paris, được phân công điều động vào Quảng Trị để hỗ trợ công tác tái thiết đất nước sau chiến tranh, khắc phục hậu quả bom mìn và chất độc màu da cam vẫn còn dai dẳng trên da thịt đất mẹ Việt Nam. Và hơn hết, bà muốn vào miền Nam để tìm lại người con trai cả đã hy sinh trong ấy từ những ngày đầu chống Mỹ. Bà muốn giữ cái lời hứa đã nói với chồng, một cán bộ Cách mạng kỳ cựu, khi ông lâm chung, rằng: “Ông ơi! Khi nước nhà thống nhất, tôi với thằng Cường nhất định sẽ đi một chuyến vào trong đó tìm con cho ông… cho chúng ta…" ⁽¹⁾ Và rồi ngay sau ngày thắng lợi, bà đã đem Cường, khi ấy mới lên sáu, theo chuyến tàu vào Quảng Trị nhận công tác mới, bắt đầu những tháng ngày đi dọc các nẻo đất miền Nam, hết những nghĩa trang này đến nghĩa trang khác để tìm hài cốt người con trai.
Còn Quang, gia đình anh vốn ở phía bên kia vĩ tuyến 17, cha anh cũng từng phục vụ cho quân đội nguỵ quân nguỵ quyền trước khi qua đời. Mùa xuân năm 1975, chính quyền Sài Gòn sụp đổ tháo chạy, anh cùng mẹ rời khỏi căn nhà rường cổ kính bên bờ sông Hương, theo tiếng gọi vận động của nhà nước đi làm kinh tế mới tại Quảng Trị.
Hai người đàn bà, hai người mẹ, hai thân phận và cuộc đời trái ngược, bằng cách nào đó đã tình cờ gặp nhau nơi miền đất khắc nghiệt này, dựng lên hai mái nhà tranh đơn sơ trên bãi đất đã từng phủ đầy khói bom ở một làng nhỏ bên kia thành cổ. Cùng cảnh ngộ vợ mất chồng, con mất cha, họ trở thành chỗ dựa của nhau, cùng đi qua những năm đầu gian khổ. Quang và Cường cũng vì thế mà lớn lên bên nhau từ thuở chân trần chạy nắng cho đến khi cùng khoác tấm áo học trò.
Trước ngày hoà bình, Quảng Trị xơ xác với những chái nhà bỏ không, mặt đất đỏ bầm đầy vỏ đạn lộ thiên và hố bom to như cái ao lớn bởi các cuộc giao tranh đánh phá liên miên. Lâu dần, cỏ cây cũng mọc xanh trở lại, phủ bóng lên con đường đi về hai mái nhà của họ là từng đám cỏ lau cao ngút đầu người, hoa lau nở trắng những tháng mùa đông bồng bềnh như một biển mây.
Quang và Cường thường chạy rong ngoài bãi cỏ lau sau nhà. Hai đứa trốn tìm giữa những thân lau khô, tiếng cười vang khắp cánh đồng. Cường lúc nào cũng chạy nhanh hơn, cậu cố tình núp thật kín để rồi bất ngờ nhảy ra hù khiến Quang giật mình la oai oái. Khi mệt, cả hai nằm dài trên cát, nhìn bầu trời xanh nhòe ánh nắng, tay nghịch những bông lau rụng, nói đủ thứ chuyện ngây ngô của tuổi thơ. Cũng có hôm, hai đứa cùng lũ bạn trong làng rủ nhau bẻ những nhành lau trắng muốt mà học theo thời vua Đinh Bộ Lĩnh, chia phe đánh trận giả đến quên cả giờ cơm chiều. Hay có cả những ký ức trẻ con thật buồn cười: Quang bị một đám trẻ con xóm bên chọc tức đến đánh nhau, Cường liền về khóc với mẹ rằng mẹ ơi anh Quang bị bắt nạt ngoài kia kìa, làm hai bà mẹ phải hốt hoảng chạy đi tìm. Rồi những trận đòn đến lằn mông vì cái tội rong chơi…
Lên cấp hai, hai đứa chuyển đến ngôi trường mới cách nhà hơn ba cây số. Buổi sớm, cả xóm chỉ có tiếng gà gáy và tiếng chân dép loẹt xoẹt của hai đứa trẻ trên con đường đất đỏ còn đẫm sương đêm. Cường chạy qua nhà gọi Quang, tay dúi cho anh một khúc sắn nướng nóng hổi, cười tít mắt: “Nhớ ăn cho ấm bụng, cái đồ hay ốm,” rồi chạy biến trước. Em hay đi trước Quang một đoạn, thỉnh thoảng ngoái lại chờ, còn Quang thì vừa đi vừa càu nhàu ngái ngủ: “Đi chi mà nhanh vậy.” Đến lớp, hai đứa ngồi chung bàn. Vở Quang chữ nghiêng nghiêng có phần hơi ẩu, còn vở Cường nắn nót từng nét tròn trịa. Giờ ra chơi, họ cùng lũ bạn ra sân bắn bi, gấp máy bay giấy hay bắt dế trong đám cỏ. Cường bao giờ cũng giỏi hơn, thắng hết cả những đứa lớp trên, nhưng lần nào thắng cũng chia bi cho Quang và cười bảo: “Do tớ may thôi.”
Những buổi tan học, hai đứa đi về giữa đồi lau lộng gió. Cường vừa đi vừa ngân nga hát mấy bài trong lớp nhạc còn chưa thuộc hết lời. Quang cứ lặng im nghe em hát và thầm nghĩ hẳn sau này em sẽ trở thành một nhạc sĩ có tiếng, hay chí ít phải là một giáo viên trường nhạc. Giọng Cường khi trầm khi bổng như tiếng sáo diều, đôi lúc khàn khàn của một cậu trai mới lớn đang vỡ giọng nhưng thật mộc mạc và chân thành. Quang nhìn theo bóng em phía trước chìm trong những sóng lau trắng muốt, cảm giác như cả khung trời rộng lớn kia đang vẽ quanh họ một vòng ôm dịu dàng. Khoảnh khắc ấy êm đềm đến mức anh chỉ muốn con đường về kéo dài mãi, để giọng hát của Cường không bao giờ dứt trong không gian đang ngả màu hoàng hôn.
Những chiều Quảng Trị đổ mưa bất chợt, cả hai cùng trú dưới mái hiên một nhà dân ven đường, cả người cứ run lên vì nước mưa lạnh buốt mà vẫn cười nói tranh nhau kể chuyện trên lớp. Dưới mái hiên hẹp, hơi ấm từ vai áo chạm nhau rất khẽ, tiếng mưa đổ rào rạt ngoài kia như lời đồng loã cho một điều gì nhỏ bé nhưng đã bắt đầu đâm chồi ở trong tim. Ngày tháng ấy giản dị mà ấm áp, cứ thế trôi đi giữa màu lau trắng muốt và màu xanh của trời, của nước, của miền đất đang dần hồi sinh sau chiến tranh.
Thời gian trôi. Hai đứa lớn lên, vào cấp ba, vẫn đi học chung, vẫn qua con đường ven sông đầy lau ấy mỗi ngày nhưng đã không còn vô tư như xưa. Họ đều ít nói hơn, giữ trong lòng nhiều hơn. Chẳng giận hờn gì nhưng có lẽ đó là sự ẩm ương của tuổi mới lớn, cái tuổi mang trong mình nhiều ước mơ và cũng nhiều lo nghĩ rất đỗi thơ ngây. Những trò đuổi bắt khúc khích tiếng cười dần biến thành những buổi đạp xe về nhà trong im lặng, mỗi đứa quẩn quanh một suy nghĩ khác nhau. Cường vẫn đi trước, áo trắng học trò phất nhẹ trong gió, tóc lòa xòa và trán ướt đẫm mồ hôi, đôi khi ngoái lại gọi: “Đi nhanh Quang ơi, nắng táp cả vào mặt rồi”. Quang rướn người đạp theo sau, cố giữ khoảng cách đủ gần, nghe tiếng bánh xe nghiến lên con đường đầy bụi đỏ mà ngỡ như trái tim cũng rung lên một nhịp lạ lùng.
§
Lại một chiều cuối năm, khi gió chớm đông bắt đầu tràn về từ phía cửa sông, cỏ lau lại trổ bông, trắng mờ trên nền trời ráng đỏ. Hai đứa ngồi bên nhau, không ai nói gì, nghe gió thổi qua những bông lau run rẩy và tiếng nước vỗ lăn tăn dưới mặt sông. Họ nhìn chếch sang phía bên kia sông, nơi có cây cầu sắt vẫn hiên ngang sừng sững soi bóng. Một đoàn tàu lại chạy qua, những toa tàu lầm lũi trong tiếng còi rền vang khi vào bến mang theo những gương mặt hành khách lạ lẫm và sang trọng, như muốn mời gọi hai đứa rằng thế giới bên ngoài còn rộng lớn biết bao.
Cường dõi nhìn theo đoàn tàu thật lâu rồi khẽ nói, giọng nhoà đi trong gió nghe như một lời thì thầm: “Có lẽ sau này tớ sẽ đi. Ra khỏi Quảng Trị này. Một nơi nào đó không có nắng gắt, không có gió Lào thổi tứ bề, cũng không có những mùa bão lũ mưa trắng trời trắng đất, mùa đông thì lại rét căm như nơi đây.”
Quang cười, nhưng giọng nghẹn lại. Rồi một ngày, người bạn ấy sẽ đi thật xa, để lại sau lưng những buổi chiều hanh hao, cả triền sông vắng, cả bãi lau heo hắt trong gió đông cùng một điều chưa từng kịp gọi thành tên.
Anh chỉ biết quay mặt đi để Cường không kịp nhìn thấy vành mắt hoen đỏ. “Ừ… ở đây chẳng có gì, lại khắc nghiệt quá. Rồi cả hai chúng ta cũng sẽ đi thôi, Cường nhỉ,” Quang đáp khẽ.
Anh biết, trong thâm tâm anh vẫn muốn họ cùng nhau đi tiếp quãng đời còn lại trên mảnh đất này, nhưng cũng thấy mình ích kỷ quá đỗi. Quảng Trị đã đẹp lên nhưng vẫn còn nghèo quá. Cường giỏi giang như thế, lên cấp ba vẫn luôn là học sinh xuất sắc, đi thi học sinh giỏi toàn tỉnh, em xứng đáng có một cuộc sống tốt hơn, ở một nơi khác nhiều cơ hội hơn.
Cường mỉm cười nhìn xa xăm, ánh mắt ngời lên một niềm hy vọng trong sáng, kiên định. Em nhặt một phiến lá cuộn lại đưa lên miệng thổi, tiếng gió luồn qua kẽ lá nghe như một khúc sáo, âm thanh trong trẻo vang vọng như gọi về cả tuổi thơ đã qua. Quang nhìn nghiêng sang khuôn mặt ấy, sống mũi cao thẳng và nụ cười ấm áp xán lạn của Cường mới đẹp làm sao, và anh thấy tim mình thắt lại trong một niềm rung động âm thầm, ngọt ngào mà day dứt.
§
Năm cuối cấp ba đã trôi đi thật mau. Những bông lau bên triền sông cũng ngả khô xám, rụng dần theo gió hạ. Hai đứa vùi đầu vào những bài học và kỳ thi, mang theo niềm hy vọng vụn vặt về tương lai, lại chẳng để ý thời gian đã thoi đưa như dòng sông vẫn chảy trước nhà. Cường vẫn luôn xuất sắc đứng đầu lớp, những nụ cười thoáng qua và ngắn ngủi em dành cho Quang lại khiến anh bồn chồn trong một niềm hạnh phúc viển vông, vừa bâng khuâng tự vấn về thứ tình cảm lạ lùng đang len lỏi trong lòng.
Thế rồi, ngày cuối cùng của lớp 12 cũng đã đến. Sáng ấy, sân trường như xôn xao hơn ngày thường, ánh nắng đầu hạ chan hoà phủ lên những tà áo dài một sắc vàng thật nhẹ nhưng huyền ảo. Bầu trời trong veo, xanh đến lạ, như cố giữ lại cho riêng ngày hôm nay chút tinh khôi cuối cùng của tuổi học trò. Ve đã kéo đến trên những tán phượng từ lúc nào, chúng đang ca bản đồng dao cũ kỹ mà quen thuộc ấy, khiến người ta giật mình chững lại, bồi hồi nhận ra hè đang tới rồi. Phượng vĩ đã nở từ những ngày đầu tháng Năm, cánh hoa rực rỡ sinh động như một cánh bướm khẽ bứt mình khỏi cành lá, xoay tròn trong gió rồi đậu xuống sân gạch, đỏ thắm, mong manh.
Quang đứng bên cửa sổ lớp học, nhìn ra khoảng sân quen thuộc ngập nắng, bàn tay vô thức tựa lên khung gỗ đã tróc sơn. Những năm tháng học trò sắp kết thúc, còn tương lai thì vẫn mịt mờ vô định. Anh chợt thấy trong lòng còn nhiều rối ren quá. Anh đã từng tâm sự tâm sự với Cường nhiều điều những khi hai đứa sôi nổi bàn luận về dự định, về mơ ước, về cuộc sống xa xôi của hai mươi, ba mươi năm sau. Nhưng rồi về đêm, khi mọi âm thanh lắng xuống và con người ta bình tâm lại, anh chợt thấy những suy nghĩ đó có phần nông nổi và ngây khờ trẻ con. Anh cũng đã chọn cho mình một con đường, nhưng chưa thật chắc. Rồi tương lai sẽ đẩy đưa họ đi những đâu? Liệu nhiều năm nữa, họ có còn nhận ra nhau giữa những đổi thay của cuộc sống, hay mỗi người rồi sẽ trở thành một dáng hình xa lạ ngay cả với chính tuổi trẻ của mình. Nghĩ tới ấy, lòng Quang chùng xuống rất khẽ.
Trong lớp, mọi người đang viết lưu bút cho nhau. Tiếng cười thích thú xen lẫn tiếng mấy bạn gái đang nức nở giờ phút chia tay. Hết hôm nay, mỗi người sẽ đi trên một chặng đường khác. Có những bạn sẽ thi đại học, có bạn chọn lên thành phố mưu sinh kiếm sống, cũng có những bạn ở lại quê nhà phụ ba mẹ việc đồng áng. Có lẽ, khoảnh khắc chiều nay sẽ là một lần cuối cùng họ được ở bên nhau đông đủ thế này. Mai sau, dù có cố gắng cách mấy, cũng khó có thể gặp lại đông đủ bốn mươi gương mặt này cùng ngồi vào một bàn ăn hay một quán cafe nào đó, càng không thể cùng ngồi vào một lớp học như thế này nữa rồi. Ý nghĩ ấy khiến Quang chậm lại một nhịp thở. Hóa ra điều người ta sợ đánh mất nhất không phải là thời gian, mà là những tâm hồn từng đi cạnh mình suốt ba năm dài, từng cùng nhau trải qua bao mùa thi, bao mùa phượng đỏ, bao kỷ niệm một thời vụng dại nhưng trong sáng. Những ngày đẹp nhất, mà dẫu có đánh đổi bao nhiêu tiền bạc sau này cũng không được một lần quay lại nữa.
Cường đang ngồi ở dãy bàn bên cửa sổ, cầm cuốn sổ ai đó chuyền tay sang, vừa đọc vừa cười. Nụ cười ấy Quang đã quen thuộc đến mức chỉ cần nhìn thoáng qua thôi cũng như thấy cả một vùng kí ức lung linh như mặt nước sông mùa nắng.
“Quang, cậu chưa viết lưu bút cho tớ đấy nhé!” Cường chợt ngoảnh lên nhìn Quang, cười gọi.
Quang nhìn em, ánh mắt khựng lại vài giây vội thoát khỏi dòng suy nghĩ miên man, rồi khẽ gật. Anh nhận cuốn lưu bút, kéo ghế ngồi xuống cạnh Cường. Em vẫn đang hào hứng kể với mấy đứa bạn cùng lớp về dự định thi vào nhạc viện. Mẹ Cường mong em có cơ hội tiếp tục theo học chuyên nghiệp ở ngoài Hà Nội, còn Cường thì mơ về một đời viết nhạc. Em bảo muốn làm nhạc sĩ, muốn viết ra những khúc hát kể về nắng gió quê nhà, muốn có những bản giao hưởng làm lay động trái tim hàng vạn người được biểu diễn ở Nhà hát Lớn.
Quang lặng yên, tay chỉ mân mê cuốn lưu bút đang mở dở. Trang giấy trước mặt trắng tinh, làn gió thổi làm mép giấy rung khẽ. Anh không biết phải viết gì cho Cường. Một lời chúc bâng khuâng xán lạn về thành công ư, một câu nói giữ liên lạc ư? Hay là điều thật lòng nhất, điều mà anh đã ấp ủ rất lâu nhưng chưa bao giờ gọi tên. Từ lâu rồi, trong trái tim anh đã có một câu nói khác. Một câu mà chỉ cần nói ra thôi, cũng đủ làm thay đổi thế giới của hai đứa. Nhưng anh không nói được. Không phải vì anh ngờ vực cảm xúc của chính mình, mà vì sợ khi lời đã thốt ra, liệu họ sẽ như thế nào? Sẽ cách xa nhau hay là sẽ gần lại bên nhau hơn, điều đó anh không dám chắc, mà có lẽ anh cũng không muốn đoán thêm nữa.
Quang nhìn nghiêng gương mặt người bạn cùng bàn suốt bao nhiêu năm trời, tự nhiên thấy mọi điều muốn nói đều nghẹn lại. Anh muốn hỏi Cường rằng sau này lên thành phố học có còn nhớ Quảng Trị, có còn nhớ dòng Thạch Hãn và những buổi chiều hai đứa ngồi đếm chuyến đò qua lại giữa đôi bờ không. Nhưng cuối cùng, anh chẳng nói được lời nào. Thời khắc chia xa sắp điểm mà lòng anh cứ ngỡ mình vẫn còn đâu đó giữa bãi lau chiều năm nào, tiếng hai người thiếu niên gọi nhau vọng trong gió. Anh nhận ra, mình đã gom hết những năm tuổi thơ ấy thành một khoảng trời xanh ngời nhỏ bé trong tim, mỗi kỉ niệm đều đẫm trong luồng ánh sáng dịu dàng như mơ. Trong khoảng trời ấy có một thứ tình cảm mong manh nhưng sâu thẳm, đủ để chỉ cần nhớ đến anh cũng thấy lòng mình se lại, như đang nâng niu một chồi non xanh biếc trên tay, run rẩy mà dịu êm.
Cường ngoảnh sang, thấy Quang vẫn chưa viết gì, cười bảo: “Cậu nghĩ gì mà lâu thế, hay lại định viết mấy câu hoa mỹ văn vở đấy?”
Quang cũng bật cười, hơi bối rối, anh viết nhanh vào sổ Cường mấy câu:
Sẽ nhớ cậu bạn cùng bàn suốt mười hai năm trời này rất nhiều. Chúc Cường đạt được ước mơ, đậu vào Nhạc viện, được đứng trên những sân khấu lớn như cậu vẫn thường mong. Sau này, dù có đi xa đến đâu cũng đừng quên tớ nhé!
Ký tên
Quang
Nét chữ không thật thẳng hàng vì tay anh khẽ run nhưng câu chữ thì thật rành mạch. Cường đọc xong, không nói gì ngay, dường như đang suy nghĩ điều gì. Ánh mắt ấy làm trái tim Quang chao đi trong một thoáng ngắn ngủi. Cường có nhận ra tình cảm của anh không? Nhưng rồi anh lại yên tâm khi Cường cười khẽ, nghiêng đầu trêu:
“Cũng biết viết lời tử tế ghê nhỉ. Tớ mà không đậu Nhạc viện thì cậu có còn nhớ tớ không đây.”
Quang bật cười, định nói gì đó rồi lại thôi. Cường nhìn chăm chú vào trang lưu bút thêm một lần nữa rồi khép sổ lại:
“Cảm ơn nhé. Có ra sao, tớ vẫn coi cậu là thằng bạn quan trọng nhất.”
Chú thích

...đến chương tiếp theo...
